Thời gian hội khóa 91-94 BKX

Wednesday, 25 April 2012

Ghi chép tại Ngư Lộc.




            Lang Thang hóng hớt
Ngư Lộc là 1 làng chài sầm uất tại Hậu Lộc, Thanh Hóa. Nói là làng chài nhưng có thể gọi là thị tứ vì cư dân tập trung trên con phố biển dài chừng 1 km . Nhưng với dân số là 2,2 vạn dân trên 1 cây số vuông bao gồm cả biển. Người dân ở đây đa số bám biển, Với ngề chính là làm lộng, khơi, và nuôi ngao. Vì dân cư đông, người dân không có ruộng, họ phải bám biển để mưu sinh. Đàn bà con gái thì làm thuê cho các chủ vựa cá, công việc của họ là sơ chế hải sản.
Cách đây hơn chục năm kinh tế còn khó khăn, họ thường dùng các thuyền bé đánh bắt cách bờ 20 đến 25 hải lý. Họ đánh bắt dọc bờ biển, sang cả bên Nam định, Thái Bình, có khi sang cả Cát Bà hải phòng tìm Ngư trường mới. Người dân nơi đây gọi đó là làm lộng. Vài năm gần đây kinh tế có khá hơn họ đóng tầu to hơn và đi biển xa hơn , cách bờ 100 đến 150 hải lý. Đến cả vùng khai thác chung với Trung Quốc. Mỗi chuyến đi ít thì 1 trăng, dài thì hai trăng. Các vùng đánh bắt cá chung thường bị Trung Quốc cấm từ 15/5 đến 15/8. Những ngày này họ đánh bắt ven bờ chừng 5 ngày 1 chuyến. Thu nhập thì phụ thuộc vào thiên nhiên. Có chuyến chỉ đủ ăn có chuyến thì lỗ tiền ăn, ngoài ra phải ko đủ trả tiền dầu chạy máy. Và trong khoảng thời gian này họ dành cho việc tu bổ thuyền bè, máy móc.


            Một bát cơm phải cõng thêm hai bát
            Về đóng thuyền thì tùy , thông thường đóng mới 1 con tầu rộng chừng 3 mét đến 4 mét dài chừng 15m phải bỏ ra chừng tỷ hai hoặc tỷ rưỡi tùy từng loại máy. Ngư dân như người lái ngựa, đa phần phải đi vay. Vay của người thân, vay tín dụng. Vay tín dụng chỉ vay được chừng 1 trăm triệu là cùng, lãi xuất cả phần loppy khoảng 25%, nhưng mà còn rẻ hơn so với vay bên ngoài, vay ngoài có khi lãi xuất đến 35%. Khi có tầu bè rồi về chuyện sắm ngư cụ, lưới , câu… đa phần là tiền chịu. Dầu chạy máy cũng chịu, nợ . Khi ra khơi họ nếu trúng cá thì về trả nợ xong cũng chẳng còn được là bao. Và tiếp theo là những tháng ngày ăn chờ cho đến chuyến đi biển tiếp theo. Có thể nói họ - ngư dân ở đấy họ kiếm 1 bát cơm cho mình là phải cõng theo 3 bát cho các loại chủ nợ chứ chẳng sung sướng gì. Thân phận người Nông dân, Ngư dân cho dù ở đâu , thời nào vẫn thế, Họ là loại công dân hạng thứ chín xếp sau loại ăn trộm, trên loại ăn mày 1 bậc vì cái loại ăn trộm cũng phải mưu mẹo lanh lẹ. Ngư dân ở đây chỉ có sức khỏe và đôi bàn tay bươn ra biển và số phận của họ giao phó vào ông trời.

Ảnh: Mai Phượng

            Một điều kinh ngạc là sự  chịu đựng và cường độ lao động của ngư dân khi ra biển. Là thuyền trưởng họ lái tầu với 5 ngày đêm không ngủ. Có câu chuyện truyền khẩu là ở đây có ngư dân tên là Hòa mắt-nổi tiếng vì lái tầu trong hai tháng không hề chợp mắt. Nhưng sự nghiệp là ngư dân thường ngắn ngủi. Khi không còn đủ sức khỏe đi biển, họ thường ở nhà ngồi không, đến bữa con cái cho gì ăn nấy, vậy thôi. Buổi chiều họ ngồi hàng dãy trông ra biển, một phần có lễ vì hóng gió và kể cho nhau những câu chuyện ra khơi.
            Khi cái đói khổ chưa hết thì trong hơn hai mươi ngàn người dân ở đây có chừng khoảng 500 con nghiện ma túy. Trung bình mỗi con nghiện 1 ngày tiêu tốn cho công việc “tao nhã” của họ tốn chừng 250 ngàn và chỉ 20% trong số đó có tiền, ngoài ra phần còn lại là trôm cắp linh tinh, họ là gánh nặng cho chính gia đình họ và xã hội.  Khi tiếp xúc với công an xã được cho biết chính ở đây là 1 trong hai xã trọng điểm của huyện Hậu Lộc. Đến tối có kẻng giới nghiêm lúc 11 h. Mọi hàng quán phải đóng cửa. Ai đi ra đường qua giờ này nhất định phải có giấy tờ tùy thân. Nhưng có lẽ chẳng ai dại gì đi ra đường giờ này nếu không muốn phiền phức.
            Câu chuyện muối bỏ biển
            Số con nghiện này đa phần được các chủ đầm thuê trông đầm nuôi ngao,
Mỗi đầm ngao được căng lưới quây. Dân gian thường nói việc mua muối bỏ biển là chuyện hết sức ngược đời, vô lý, nhưng câu chuyện nuôi ngao của ngư dân ở đây có lẽ cũng là đại diện cho người nuôi những đầm ngao trên suốt giải bờ biển Việt nam, Họ mua muối đem bỏ biển thật.
Đầu tư cho 1 đầm ngao về tiền thuê đất chừng 300 triệu trở lên, ngao giống, cát, muối lên đến hơn tỷ đồng. Một tỷ đồng – quả là vậy, có khi hơn. Điều đáng mừng là ngư dân cũng là tỷ phú. Nói vậy mà không phải vậy. Cũng như đóng thuyền ra khơi họ chọn nghề nuôi ngao. Số tiền đó cũng phải đi vay ngoài với lãi xuất cực cao. Trung bình với số vốn 1 tỷ đồng chỉ tính theo lãi xuất ngân  hàng là 14% thì 1 tháng họ phải chi là 14 triệu( Con số này tính theo lãi tiền gửi ngân hàng quy định nhé) . Số tiền đó cộng với chi tiêu cho 1 gia đình tại đây có mèng cũng mất 5 triệu cho hai vợ chồng và 2 đứa con. Chi phí thuê 1 nhân công trông nom đầm mất 5 triệu. Tính ra 1 tháng họ phải chi ra trên 20 Triệu. Số tiền này tương ứng với với lãi cho vay của ngân hàng. Ngoài ra tiền ma chay cưới xin. ở nơi đây mỗi khi nhà có đám theo lệ họ mời rộng lắm, ăn uống tóe loe. Ngồi trên bờ biển mà đếm trung bình ít nhất có 1 đám ma, có ngày hai đám. Tỷ lên người chết nhiều thật, già có , trẻ có, bệnh có, vì chiều dài hơn chừng cây số của cái làng chài nên thông thường bị đi ăn cỗ hết lượt.
Nơi thờ cúng, thắp nhang khi ra khơi.


Trở lại việc chi phí của họ tính ra tối thiểu là 23 triệu cho 1 tháng. Nếu mưa thuân gió hòa. Bờ biển đủ thức ăn cho ngao thì may ra họ có chút lãi. Còn không thì “bạch định”. Vùng biển nơi đây nhiều bùn. Các đầm ngao ngoài việc cắm cọc , mua lưới quây đầm, mua cát để rải rồi đổ ngao giống xuống, họ còn phải mua hàng tấn muối đổ xuống nếu không ngao cũng sẽ chết. Khi con ngao không có cái ăn. Các sinh vật phù du không có nhiều nếu không quây kỹ ngao sẽ bỏ đi đến nơi khác hoặc chết. Khi ngao có hiện tượng thiếu cái ăn, con ngao vọt lên trên lưng chừng nước để lại sợi nhớt từ đáy đầm nối lên. Nhiệm vụ của chủ đầm và người trông ngao phải lặn xuống cắt sợi nhớt đó. Họ phải chủ động và nếu không thì chắc chắn công của họ là công Dã tràng. Vì đây gần cửa sông, họ thường xuyên phải nếm nước biển. Nếu thấy ngọt, không đủ đọ mặn khi đó họ phải mua muối đỏ xuống đầm. Câu chuyện  muối của họ mang bỏ biển là có thật. Và cũng giống như mọi ngư dân. Bát cơm của họ kiếm được cho riêng mình họ phải kiếm thêm hai bát nữa.



Một điều ngạc nhiên là suốt giải bờ biển Ngư Lộc không có nổi 1 cây xăng dầu của doanh nghiệp nhà nước. Phải chăng nhà nước không muốn bán dầu cho ngư dân. Câu chuyện dường như ko phải như thế. Ngư dân ở đây làm gì có tiền mặt, ra khơi chuyến nào về trang trải là lại về E. Ráo mồ hôi hết tiền. Họ mua dầu chạy máy cũng chịu. Mà phàm đã phải mua chịu thì chủ dầu họ bớt xén bao nhiêu, đong đếm có thiếu như nào cũng phải chịu. Còn chả doanh nghiệp xăng dầu nào lại muốn bán chịu cho họ cả. Mua xăng dầu của nhà nước là phải tiền tươi thóc thật. Và điều này lý giải cho việc không có nổi 1 cây xăng bán dầu diezen.
Thân phân con người.
Tiếp xúc với ngư dân ở đây mới thấy có nhiều câu chuyện nho nhỏ, và dường như những câu chuyện đâu đó quen quen. Họ là thân phận của cái tôm, cái tép, của con cua cái kiến. Họ chỉ hơn người ăn xin vì họ còn có 1 công việc để làm, có 1 mái nhà nho nhỏ để tránh mưa tránh bão. Đất chật, nhà lại đông anh chị em thế là họ nghĩ ngay đến chuyện làm thêm cái lán chừng 20m vuông lợp Pro xi măng tại ngay bãi biển. Họ chôn cọc và lợp mái để cho gia đình có chỗ làm cá mỗi khi tầu  về. Nhưng chỉ được dăm bữa lại có lệnh của chính quyền địa phương bắt dỡ. Dân tình ở đây sợ nhất là các quan trên huyện, tỉnh về vi hành. Để đón  tiếp các quan chính quyền thôn đi đến từng lán bắt dỡ hết. Cái giống đời là để nguyên thì thành áo dỡ ra thành giẻ. Thế là lại ngổn ngang be nhoe hết cả. Hết quan toàn dân thu về, nhưng vẫn chưa xong. Lại phải đi đóng tiền gọi là tiền phong bao. Cái khoản này thì chịu vì nói đến chuyện này đến ngay người viết bài này cũng chẳng biết cái tiền đó thuộc hạng mục nào. Dưng mà phải đóng thì ngày mai mới được lợp lại cái lán đó. Dân tình thì cứ theo lệ phải đóng, mình có hỏi họ là thế có hóa đơn, hay biên lai thu tiền không thì họ bảo: “ làm chi có đâu chú ơi, bên trên họ nói là các ổng về thì họ phải đưa phong bao bây chừ là phải thu lại”. 



 Ngoài các tiền hương ước, tiền rác, tiền vệ sinh môi trường,thuế môn bài…đủ các loại nhưng bãi biển đầy rác và bốc mùi hôi thối. Tiền điện thì vẫn như ở nông thôn khắp nơi, người dân tự đóng tiền làm cột điện mua máy biến thế làm trạm câu điện về dưng mà vẫn phải đóng tiền điện giá cao, thế mới lạ. Thông thường thì khi tiêu dùng, người mua hàng nhiều sẽ được giảm giá, ví dụ như đi taxi ki lo mét đầu tiên thường phải chịu giá cao nhưng đi với km tiếp theo người sử dụng dịch vụ sẽ được giảm giá dần. Có  riêng chuyện dùng điện thì ngược lại. Thế mới ngược. Điều này ai cũng biết, cũng kêu ca phàn nàn nhưng mà có lẽ chỉ có người làm chính sách mới hiểu, bản thân mình thì chịu.

Câu chuyện cũng chỉ là lượm lặt ngay tại bờ biển khi lang thang, tại xưởng mộc nơi những con thuyền được tu bổ keo ,sơn phết  cho chuyến biển sau. Là câu chuyện nho nhỏ ngư dân tâm sự mà vừa lạ lại vừa quen.
Mình không phải là nhà báo nên mình không viết là cấp trên nên xem xét hoặc đề nghị có chính sách ưu đãi cho ngư dân . có lẽ mình có gào lên chắc chẳng tới đâu nên mình nhịn. Nhưng mà ngược lại nếu có thì làm sao mà đến tay người dân được. Trên có rót vốn về thì dân tiếp xúc được tới thì họ cũng sắp sửa giải nghệ roài. Với tình trạng chung là vốn ưu đãi rót xuống bằng con voi, nhưng khi đến được tay ngư dân chỉ bằng con kiến. Ở đâu mà chả thế, kinh phí xây 1 cái trường học nhưng khi về đến nơi chỉ đủ xây cái bể nước. Thế đấy. Tệ thật.