Thời gian hội khóa 91-94 BKX

Thursday, 22 September 2011

Những quan niệm sai lầm về tượng đài ở Việt Nam.


Phạm Bình Chương.


Bài tham luận tham gia hội thảo “ Điêu khắc Việt Nam hiện đại” do Viện Mỹ thuật tổ chức, tháng 5/2006.

Được đăng trong tạp chí Kiến trúc Việt Nam, tháng 6/72007.

Được đăng trong sách “ Trước hết là giá trị con người”- chon lọc các bài viết về mỹ thuật từ số đầu tiên đến nay của Tạp chí Văn hoá- Nghệ thuật, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin.( 2008).

Việc xây dựng tượng đài ở Việt Nam qua thực tế đã làm ngao ngán và xót xa cho hầu hết toàn bộ người dân Việt Nam. Mặc dù quy trình xây dựng dự án có vẻ bài bản, công khai như công bố các bản phác thảo, công bố kinh phí nhưng rốt cục vẫn cho ra những kết quả mà vừa khánh thành đã có nhiều tiếng chê hơn khen. Nghe những lời chê, ai cũng thấy đúng. Nào là hình thức xấu, vô hồn, đặt vị trí không hợp lý, sao chép, tốn kém tiền của…. Nhưng thế nào là đẹp, thế nào là có hồn thì không thấy nói đến, chỉ thấy “cần phải thay đổi” để rồi khi một tượng đài mới vừa khánh thành, lại có nhiều ý kiến như vậy, nghe đến nhàm chán. Chúng ta bị lối tư duy một chiều, tự trói buộc trong những định kiến sai lầm và không có lối thoát. Tất cả các tượng đài đều là sản phẩm của các quan niệm sai lầm đó. Vậy ta hãy thử “ luận” những cái sai lầm đó là cái gì, và đâu là giải pháp.

1. Tượng đài là để tưởng niệm chiến tranh:

Chức năng của tượng đài, theo quy định của Bộ văn hoá ra ngày 29/3/2000 là: “Tượng đài là công trình văn hoá nghệ thuật biểu hiện nội dung tư tưởng và tinh thần thời đại, mang hình thái xã hội đương thời, được thể hiện bằng chất liệu bền vững, là bộ phận cấu thành của không gian kiến trúc, đô thị và cảnh quan thiên nhiên, có quy mô và hình thức nghệ thuật hoành tráng, tác động đến hình thức của xã hội.” Song phần lớn tượng đài Việt Nam có một chủ đề lớn, đó là chiến tranh. Cũng có thể ở Việt Nam, chỉ có các sự kiện đáng nhắc đến là đấu tranh chống giặc ngoại xâm chăng. Điều này cũng có lý vì chúng ta gần như không được ngừng nghỉ đấu tranh chống ngoại xâm suốt 40 thế kỷ. Thế giới biết đến Việt Nam cũng qua chiến tranh. Chúng ta quên mất một giá trị đã làm nên lịch sử Việt Nam, đó chính là văn hoá. Việt Nam nổi tiếng về giữ gìn bờ cõi, không đầu hàng bất cứ thế lực nào song còn nổi tiếng là không để mất giá trị văn hoá, kể cả đến hàng ngàn năm đô hộ. Chúng ta chiến đấu cũng để hưởng thụ văn hoá và sống trong tình yêu thương của người Việt. Và xin hỏi, cái gì gây xúc cảm cho điêu khắc? Xin thưa, đó là con người hay nói đúng hơn, đó là hình tượng con người. Trong bất cứ giai đoạn nào của lịch sử cũng xuất hiện những con người, hoặc những lớp người tích cực, họ tạo nên lịch sử. Và tại sao chúng ta không xây dựng hình tượng của họ. Ở các nước, sự lựa chọn một nhân vật để dựng tượng cũng rất đa dạng. Đó có thể là một ngài thị trưởng, một người lính cứu hoả. Bất kể ai nếu như họ có công lớn hoặc thể hiện được đức tính quý của con người. Tôi có dịp lang thang ở Stockholm một buổi chiều chạng vạng và giật mình khi suýt va vào một người công nhân môi trường đang đẩy nắp cống để đi lên. Thực ra đó là một bức tượng. Không những vậy, theo tôi nó có tính chất của một bức tượng đài (một bức tượng đài không có đài). Vì nó tôn vinh con người, ca ngợi một ngành nghề. Nó đã đẩy lùi khoảng cách giữa các tầng lớp xã hội. Đó, tượng đài nhiều khi chỉ đơn giản vậy thôi. Thậm chí có nơi họ dựng tượng cả động vật, những con vật cứu người như chó, ngựa…Đi dọc tuyến đường Bắc Nam, cứ đến mỗi tỉnh lại có một cổng chào chào đón quý khách tới tỉnh X. Những cổng chào chắp vá những biểu tượng dân tộc và chiến đấu, na ná giống nhau. Chúng ta quên mất văn hoá vùng miền mỗi nơi mỗi khác. Và tại sao lại không quảng bá văn hoá vùng đó. Ví dụ tỉnh Bắc Ninh nên xây dựng hình tượng liền anh liền chị Quan họ mời trầu quý khách. Như vậy tính đặc sắc của văn hoá vùng miền được khắc họa quá rõ, và rất dễ gợi ý cho tính nghệ thuật ở bức tượng. Ở Việt Nam tượng công nông binh quá nhiều song danh nhân văn hoá lại quá ít. Ngay cả các sự kiện lịch sử cũng chỉ biết tôn vinh chiến thắng.

Theo tôi, nên đa dạng hoá chủ đề khi xây dựng tượng đài, không nhất thiết phải là những con người thời chiến. Chúng ta tự hào về nước Việt Nam ngàn năm văn vật , song cái để chọn tôn vinh lại chỉ loanh quanh trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hãy mở rộng biên độ thời gian cả về quá khứ và hiện tại. Hãy tôn vinh những con người bình dị nhưng có tấm gương sáng. Có thể họ còn có sức truyền cảm mạnh hơn tới thế hệ trẻ.

2.Tượng đài phải hoàng tráng.

Tiêu chí này được khẳng định ở văn bản của Bộ văn hoá. Đó là một tiêu chí đúng đắn. Song chúng ta đã hiểu sai về khái niệm hoành tráng, cho rằng nó có nghĩa to tát, lớn lao. Nếu tượng đài phải hoành tráng thì đề tài phải hoành tráng. Vậy chúng ta cứ phải tìm những sự kiện hào hùng, vang dội và cố gắng thể hiện một quần thể có thế dáng động vươn lên phía trước. Nếu là một nhân vật lịch sử tất phải là vua, tướng quốc. Do đó mọi dự án tượng đài đều có chi phí lớn và đều là những công trình tầm cỡ…

Tượng đài có thể hoành tráng nhưng tính hoành tránh không phải nằm ở hình thức mà ở sức mạnh bên trong. Hoàng tráng còn phụ thuộc vị trí và cảnh quan. Ngay cả khái niệm “động” cũng đừng hiểu thô thiển là phải cầm vũ khí vung lên. “Động” là thể hiện được sự sống động của con người, có thần khí ở bên trong. Nhiều tượng ở Việt Nam tuy ra oai nhưng không tự nhiên, vô hồn. Vì sao? Vì muốn có dáng động thì các trục cổ, vai, thân phải khác hướng nhau, như thế mới tạo ra thế linh hoạt, uyển chuyển. Hầu hết các trục nhân vật của tượng đài Việt Nam đều cùng hướng, nên vung tay cũng vô ích. Tay là chi tiết phụ nhất trong một thế dáng. Nhiều tượng không cần có tay mà vẫn đẹp, vẫn động ( vệ nữ Milo, Thần chiến thắng…).

Tôi không phủ nhận sự đồ sộ những công trình đã được xây dựng ở Việt Nam, vì đúng là phải cần những điểm nhấn quan trọng trong cảnh quan thành phố. Song khi mà tính chuyên nghiệp còn non kém, cả vấn đề kỹ thuật và mỹ thuật ( như nhiều ý kiến từ các phương tiện truyền thông đại chúng), vấn đề kinh phí còn lớn thì tượng càng “ hoành tráng” càng bị nhấn chìm vào những lỗi lầm không thể sửa chữa. Vậy nên chăng đã đến lúc phải triển khai những công trình có quy mô nhỏ hơn. Và vì thế, kh ông gian đ ặt t ư ợng đ ã không còn là vấn đề lớn. Chỉ một vị trí như các bùng binh đặt ở các quảng trường là đủ cho một tượng đài cỡ nhỏ. Các vườn hoa nhỏ, các đài phun nước cũng có thể đặt tượng. Nói tới đây, chắc nhiều nhà điêu khắc sẽ cười: “ khờ quá, tượng nhỏ thì tiền ít, sao đủ rải ngân”. Song tôi lại có sáng kiến: hãy chi số tiền 15 tỷ ( ví dụ thế) của dự án 1 công trình vào 10 công trình nhỏ, tất nhiên vẫn trong một dự án, như vậy tổng chi vẫn thế. Có thể tiến hành dự án theo chủ đề, ví dụ đợt này sẽ làm 10 danh nhân văn hoá tiêu biểu của Việt Nam, được đặt ở các tỉnh thành khác nhau. Đợt sau sẽ là tượng các hiệu trưởng đầu tiên của các trường đại học …

3. Tượng đài phải có phong cách riêng.

Không cần nói, ai cũng phát hiện ra các tượng đài ở Việt Nam có phong cách tương đối giống nhau. Vậy đó là phong cách gì? Đó chính là phong cách tượng đài ở Việt Nam. Trừ gương mặt, còn hình dáng các nhân vật đều có dáng vẻ chắc nịch, các khối được phạt mảng, các nếp quần áo được cách điệu, giản lược, hơi trang trí, giống như mặc áo bằng bìa cứng hoặc kim loại. Có thể gọi là phong cách khỏe hóa. Chắc đó cũng là logic khi quan niệm về sự hoành tráng. Và xin đừng nhầm các tượng đài ở Việt Nam là hiện thực, vì nó đâu có giống người. Hãy cho bất cứ ai đứng cạnh tượng sẽ thấy rõ sự khác biệt. Các bộ phận đều to, thô hơn thực tế rất nhiều. Những dáng đứng trông có vẻ khoẻ mạnh đó thực ra lại rất yếu, vì không có sức sống. Tôi cũng đã thử đứng theo các dáng đó, song chỉ được vài giây là mỏi.( bạn hãy thử đứng theo dáng tượng Quang Trung ở Gò Đống Đa, xem được mấy giây). Vì sao, thứ nhất, nói về vật lý, khi không còn thế năng thì không còn lực. Các bức tượng đã vươn ra hết cỡ rồi thì còn sức đâu. Thứ hai, tôi thấy nghi ngờ là hình như nhiều tượng đài là xây dựng hình tượng không có mẫu. Vì nếu có mẫu người thì dáng vẻ sẽ phải khác. Cho nên tượng đài Việt Nam không có sức sống là vậy. Đấy là chưa kể lý do tôi đã nói ở mục trên. Phong cách khỏe hóa này rõ ràng ảnh hưởng rõ rệt từ Liên Xô, Trung Quốc những năm 40, mà điển hình là tượng công nông của Vera Mukhina. Và có khuôn mẫu: hình tượng công nông binh thì phải khoẻ . Nhưng đó là người Liên Xô, là những con người thuộc khu vực địa lý khác, và không có sự thô thiển mà chỉ có sự gia giảm, cường điệu đôi chỗ để tăng vẻ đẹp. Người Việt Nam thì không thể như vậy. Đó chỉ là phong cách của một thời, một thời kỳ cách mạng mà yếu tố cổ động được đặt lên hàng đầu. Do vậy tượng và tranh cổ động có nét hao hao giống nhau. Ở Việt Nam, chúng ta đang sống trong thời đại thông tin mà quan niệm về vẻ đẹp vẫn quanh quẩn ở thời đại chiến 2.

Con người sinh ra là để yêu cái đẹp và cái thật. Chúng ta hãy thử để ý xem tại sao trẻ con đứa nào cũng thích mô hình siêu nhân, người nhện? Tại sao các bé gái lại thích búp bê barby. Đơn giản vì chúng là những hình mô phỏng người rất chính xác. Hay các nhà điêu khắc Việt Nam không đủ trình độ làm tượng hiện thực? Xin thưa: họ có thừa. Những tác giả tượng đài đều có trình độ chuyên môn vững vàng, được đào tạo cực kỳ bài bản. Năm 2006, tôi có dịp thăm trường đại học mỹ thuật Silpakorn, Thái lan. Điều làm sững sờ cho đoàn Việt Nam chính là xưởng điêu khắc của trường. Có rất nhiều phiên bản tượng đài được trưng bày tại đây, và tất cả có một điểm chung là chúng không khác gì người thật, từ khuôn mặt tới vóc dáng, trang phục. Và tất nhiên, kích thước không to lắm, chỉ nhỉnh hơn hoặc bằng người thật. Những bức tượng đó đã làm xao xuyến tất cả mọi người trong đoàn. Có bức tuy thế đứng đơn giản song nếp quần áo thì đẹp tuyệt. Và để tả nếp nhăn quần áo, mất 6 năm. Đó, chúng tôi là những người trong nghề mà còn thích như vậy, huống chi là dân thường. Thái lan là một đất nước phát triển về điêu khắc, song khi làm tượng đài họ luôn duy trì lối tả thực( xu thế này cũng đúng với nhiều nước khác). Có ý kiến của một nhà phê bình cho rằng phần lớn các tượng đài Việt Nam có hình thức chưa đạt vì còn mang tính chất của salon phóng to. Tôi nghĩ ngược lại, rất nhiều tượng salon bị ảnh hưởng của phong cách tượng đài Việt Nam thì đúng hơn. Có điều lạ trong các hội thảo chúng ta cứ bàn về vấn để thẩm mỹ trong tượng đài, những sự ràng buộc tới các ngành nghề như kiến trúc, sử học và tự làm khó mình khi đưa ra những định chế khắt khe về yếu tố thẩm mỹ tượng đài, coi tượng đài là một cái gì khó lắm, cao siêu lắm song không đưa ra giải pháp cụ thể. Muốn có sự thống nhất đến đâu cũng phải đạt được tiêu chí hiện thực.

Vậy kết luận phần này, mong rằng các nhà điêu khắc Việt Nam hãy nhìn nhận lại khi được nhận làm phác thảo một bức tượng đài. Đã đến lúc phải thay đổi quan niệm. Hãy thuê mẫu và đừng mất thời gian vào việc bịa khối. Mô tả đúng con đã là đẹp lắm rồi. Đừng nghĩ rằng các nhà chức trách thích phong cách khoẻ, vì chính chúng ta áp đặt họ thì đúng hơn. Nếu hỏi bất cứ ai rằng: đâu là bức tượng đài đẹp nhất Việt Nam? Sẽ được câu trả lời: đó là tượng Lê Nin. Vì sao: đơn giản vì đó là bức tượng hiện thực nhất Việt Nam. Chức năng của tượng đài là truyền tải vẻ đẹp nội dung và hình thức tới quần chúng và chỉ có phong cách hiện thực mới làm được điều đó dễ dàng nhất.

4. Điêu khắc là biểu dương vẻ đẹp của hình khối

Tôi xin đưa ra một nhận xét nghe cũng hơi lạ nhưng nếu chú ý một chút cũng dễ hiểu. Đó là một quan niệm sai lầm về điêu khắc. Cái gì là điểm mạnh của điêu khắc? Đó là hình khối. Hiển nhiên. Và các nhà điêu khắc ra sức đắp gọt, đục đẽo để thể hiện hình khối. Có những khối gần như không diễn tả cái gì, chỉ là làm cho bề mặt gồ ghề, lồi lõm. Song họ quên mất một điều, mục đích của điêu khắc là tạo nên hình dáng (silhouete) chứ không phải là hình khối( cube). Hình khối trong điêu khắc thực ra là phương tiện để biểu diễn hình dáng. Cũng giống trong hội hoạ, màu sắc không phải là cái đích để diễn tả. Màu sắc là phương tiện thể hiện khối và không gian. Nếu hội hoạ chỉ diễn tả màu thì không gì hơn cái…palette. Hình dáng là gì: là hình ảnh vật thể khi không có khối , như ta nhìn một người đứng trước một nguồn sáng vậy, chỉ thấy bóng đen trước mặt. Cũng có thể gọi là hình bóng cho dễ hình dung. Tức là công việc của nhà điêu khắc họ phải tạo được một hình bóng tách biệt với không gian. Điêu khắc đương đại ngày càng có xu hướng triệt tiêu hình khối và chỉ chú ý xây dựng tác phẩm bằng các hình dẹt, thường được làm bằng chất liệu kim loại. Ngay cả chất liệu phổ biến của điêu khắc là đồng cũng có ý không biểu dương hình khối, vì màu của đồng rất tối, không bắt ánh sáng. Và khi chiêm ngưỡng một bức tượng đài, phải nhìn từ xa, do vậy cũng không thể thấy khối được. Rất nhiều bức ảnh đẹp của tượng đài trên thế giới được chụp ngược sáng, chỉ thấy xuất hiện bóng đen, nhưng như thế lại càng đẹp. Vậy thì tạo khối để làm gì: khối làm tăng vẻ đẹp của hình dáng và có nhiệm vụ làm thay đổi hình dáng khi xoay chiều. Một hình khối tạo nên những hình dáng khác nhau khi di chuyển điểm nhìn, đó là sự kỳ diệu của điêu khắc. Điều này không có được ở phù điêu và hội hoạ, mặc dù cả hai loại hình này đều có thể tả khối. Trên đường từ sân bay Nội Bài về trung tâm Hà nội, chắc không ai không biết bầy ngựa trên “ khải hoàn môn” dẫn vào khu đô thi mới Siputra. Song nhìn từ xa, không ai đoán được đó là hình gì, vì các con ngựa mỗi con phi một hướng và đã làm hại nhau: chúng đã dính vào nhau và vô tình tạo ra những hình khó hiểu. Rất nhiều tượng của Việt Nam cũng bị tình trạng như vậy, chỉ có hình khối mà không có hình dáng, vì đơn giản là khối tượng rất đặc, thiếu các yếu tố rỗng, mà rỗng thì mới tạo nên hình. Một bức tượng phải đạt được vẻ đẹp khi nhìn xa.

Ngoài ra, lối tư duy về sự hoành tráng, như đã nói ở trên đã làm cho các nhà điêu khắc tự hại mình, đó là sự tham lam chi tiết. Nhiều tượng đài đã bị thêm thắt nhiều thứ như cờ quạt, tường thành bao quanh nhân vật chính nên đã che khuất bóng dáng họ. Ví dụ: tượng đài Công nhân Việt Nam ở Cung Hữu nghị đã để các nhân vật bị lép vế, nằm ép vào một cái cục khó hiểu, có thể là cờ hay ống khói gì đấy. Tượng Cảm tử ở vường hoa Hàng Đậu có bức tường làm lu mờ nhân vật. Nó còn che khuất một nhân vật ở đằng sau. Tượng Quang Trung ở gò Đống Đa có một khối đặc, không hiểu là cái gì, nằm giữa hai chân nhân vật, cản trở hình dáng nghiêm trọng. Lại choàng thêm tấm hoàng bào, nhìn thẳng thì không thấy( hơi lạ), nhưng khi nhìn nghiêng thì bị đùn lên một cục, làm mất đi vóc dáng của một vị hoàng đế. Vậy liệu có phải thêm hoàng bào thì mới là vua. Tượng Lý Thái Tổ ở Bắc Ninh cũng choàng một tấm hoàng bào để rồi không còn thấy dáng vẻ đâu nữa. Tất cả các chi tiết thừa đó đều có hại vô cùng tới nhân vật.

. Nếu Michelanger nói: “ làm tượng là đục đi những phần thừa” thì chắc ông sẽ có nhiều việc phải làm tiếp với tượng đài Việt Nam.

Muốn kiểm tra hình bóng một bức tượng, rất đơn giản: hãy chụp ảnh và bôi đen toàn bộ phần tượng. Nếu còn thấy hình thể thì đó là bức tượng có hình dáng. Còn nếu là một “cục đen” khó hiểu, thò thụt, đoán mãi không ra thì đó chưa phải là điêu khắc 100%. Vậy các nhà điêu khắc có thể tham khảo phần này để kiểm tra phác thảo của mình trước khi hoàn thành. Muốn có một bức tượng để đời, trước hết phải tạo ra hình ảnh rõ ràng đã. Như vậy mới mong đọng lại trong trí nhớ của công chúng.

5.Điêu khắc ngoài trời là tượng đài:

Tượng đài là điêu khắc ngoài trời, rất đúng song không phải cứ điêu khắc ngoài trời là tượng đài. Tượng đài chỉ là một thuộc tính, một thể loại của điêu khắc ngoài trời. Chúng ta đang thiếu một mảng rất lớn, đó là tượng nghệ thuật. Cần phải phân biệt rõ chức năng của tượng đài và tượng nghệ thuật. Chức năng của tượng đài tôi đã nói rõ, còn chức năng của tượng nghệ thuật là để tô đẹp cảnh quan, tô đẹp kiến trúc, tô đẹp cuộc sống. Cái mà điêu khắc hơn hội hoạ chính là sự hoà nhập với công chúng và tính bền vững của nó. Nếu muốn xem tranh, bạn phải vào bảo tàng hay triển lãm. Còn muốn xem tượng thì dễ vì chúng ở ngay ngoài trời, nơi bạn hay qua lại. Khi tới một đất nước, cái mà ta cảm nhận đầu tiên về nghệ thuật chính là điêu khắc. Điêu khắc tác động vào giác quan một cách tự nhiên, không áp đặt, ngấm dần vào trí óc con người và tăng khả năng quan sát, phân tích về khối hình. Do đó ý thức thẩm mỹ được tăng lên. Và còn một tác dụng hết sức quan trọng của điêu khắc ngoài trời tác động đến cộng đồng, đó là ý thức trân trọng nghệ thuật. Nếu một bức tượng nghệ thuật dễ hiểu, nó sẽ làm cho người ta cảm thấy thú vị. Nếu đó là một bức tượng khó hiểu, thì người xem sẽ tìm cách hiểu hay đơn giản là nhận xét: đó là nghệ thuật cao siêu, và nó cần cho cuộc sống, thế cũng là quá đủ. Ở Việt Nam, chưa thấy một dự án nào chi cho việc dựng tượng nghệ thuật thuần tuý. Các tượng này có chăng cũng chỉ được trưng bày một thời gian nhất định, nhân có trại sáng tác điêu khắc, hoặc ở những nơi khuất như ở công viên, trong vườn của một đại gia… Điều này dễ lý giải vì nước ta còn nghèo, các chủ trương chính sách của nhà nước phải tập trung vào những công trình trọng điểm. Tôi hoàn toàn nhất trí, song cũng cần phải có sự chuẩn bị cho tương lai, kẻo quá tụt hậu so với thế giới. Các nước quanh khu vực như Trung Quốc, Singapore rất chú trọng vào tượng nghệ thuật, chúng xuất hiện khắp nơi. Họ thậm chí còn mua bản quyền tác phẩm của Dali, Moore, Botelo để bầy ở những trung tâm lớn. Ở Thái lan, điêu khắc còn xuất hiện ở siêu thị. Cũng đã đến lúc các nhà quy hoạch và các nhà kiến trúc cũng như các nhà điêu khắc cần phải kết hợp để cải tiến môi trường và tăng sức nặng vai trò của mình đôi với mục đích phục vụ cộng đồng.

Tôi xin đưa ra một số gợi ý cho tượng ngoài trời là:

1. Đa dạng về phong cách, qua đó người dân có thể tìm hiểu được về các trào lưu và phong cách nghệ thuật.

2. Đa dạng về chủ đề: người lao động, trẻ em, động vật…Như vậy sẽ gây được sự chú ý lôi cuốn được những người có cùng sở thích. Nếu một người yêu động vật thì khả năng yêu thích những tượng động vật là rất lớn.

3. Nơi đặt để phong phú: tuỳ vào phong cách và môi trường mà dựng tượng, ví dụ tượng mang phong cách cổ điển thì đặt ở các nơi có kiến trúc Pháp, nếu phong cách hiện đại thì đặt tại các đô thị mới như các khu chung cư. Xu hướng của thế giới hiện nay lại thích sự tương phản, tức là tượng hiện đại đặt cạnh kiến trúc cổ và ngược lại. Bệ tượng thấp có thể hoặc không có bệ tượng. Hãy làm sao để có thể tiếp xúc với tượng dễ dàng.

4. Có thể gắn tượng với công năng: như vậy sẽ tăng sự gần gũi của người dân với nghệ thuật, ví dụ vừa là tượng vừa là ghế, hoặc tượng có cấu trúc, kết cấu để trẻ em có thể trèo leo, tăng sự hoạt động thể chất cho trẻ, hoà nhập nghệ thuật vào quần chúng.

5. Có tính hài hước, trào phúng để tăng khả năng thư giãn và cũng có thể mang tính ẩn dụ về giáo dục và văn hoá. Ví dụ đặt tượng người đọc sách ở ghế đá công viên, một người đang ăn xôi ở nhà chờ xe buýt, một người bán hang rong… Người ta có thể ngồi lẫn với tượng. Tất nhiên đối với loại này thì tượng phải có kích thước bằng người thật.

6. Chất liệu phong phú, có thể có màu sắc. Điều này giúp tô đẹp cảnh quan một cách hiệu quả.

Kết luận:

Vậy nên chăng đã đến lúc phải tiến hành 2 việc: cải tiến chất lượng tượng đài và xây dựng tượng nghệ thuật. Để kết luận bài này tôi xin nhấn mạnh vào yếu tố con người, đó là xây dựng con người Việt Nam thật đẹp, thật sống động và gần gũi. Và chúng ta phải từ bỏ những quan niệm sai lầm. Vì nếu quan niệm này không bị xóa bỏ thì dù có đi nhiều đến mấy, học nhiều đến mấy thì cũng không thay đổi được. Các nhà điêu khắc chính là con người quyết định làm nên văn hóa tượng đài. Họ phải tạo r a những tác phẩm đẹp và đủ bản lĩnh để bảo vệ tác phẩm cũng như phải thuyết phục được các nhà chức trách chọn tác phẩm của mình đưa ra với công chúng. Dù có thể có tiêu cực, hoặc có nhiều vấn đề mà chúng tôi không thể biết được, song điều quan trọng chính là chất lượng nghệ thuật của tượng đài.

Nguồn:http://coxinh.vn/index.php?page=aboutdetail&nwid=97&title=doi-ngu-giao-vien


Wednesday, 21 September 2011

410 tỷ đồng xây tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng


UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định bổ sung 330 tỷ đồng cho dự án xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất nước, nâng tổng vốn lên gấp 5 lần so với kinh phí phê duyệt ban đầu.
> Hơn 120 tỷ đồng xây tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng

Tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng được xây dựng tại khu vực núi Cấm, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam. Với quyết định bổ sung vốn, tổng số tiền đầu tư cụm tượng đài này lên 410 tỷ đồng, trong khi kinh phí phê duyệt ban đầu vào tháng 8/2007 là 81 tỷ đồng. Tượng đài được khởi công vào ngày 27/7/2007, hiện đã hoàn tất khối lượng mẫu theo tỷ lệ 1/1.

Phác thảo cụm tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng- lấy nguyên mẫu hình tượng mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam. Ảnh: Trí Tín
Phác thảo cụm tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng - lấy nguyên mẫu hình tượng mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam. Ảnh: Trí Tín

Họa sĩ Đinh Gia Thắng, tác giả phác thảo tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng cho biết, đây là tượng đài về mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất nước đã được Chính phủ đưa vào danh mục công trình văn hóa cấp Quốc gia. Tượng đài tạc bằng đá hoa cương, lấy nguyên mẫu từ mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam.

Theo ông Đinh Hài, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam, sở dĩ tỉnh bổ sung nguồn vốn là do phải điều chỉnh thiết kế, chất liệu và đầu tư thêm nhiều hạng mục xứng tầm với cụm tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng. Ông Hài cho biết: "Hiện số tiền hơn 410 tỉ đồng để xây dựng tượng đài tỉnh vẫn đang chờ Trung ương hỗ trợ".

Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng xây trên tổng diện tích hơn 15 ha, gồm khối tượng chính và 8 trụ huyền thoại.

Trong lòng khối tượng là nhà tưởng niệm mẹ Việt Nam anh hùng có diện tích 950 m2. Đây là nơi ghi danh gần 50.000 bà mẹ Việt Nam anh hùng của cả nước và lưu giữ những hình ảnh tư liệu về phụ nữ Việt Nam tiêu biểu qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ…

Theo ông Hài, từ tháng 4/2007 đến nay, các Bộ, ngành Trung ương và tỉnh Quảng Nam đã họp bàn, nhiều lần điều chỉnh cụm tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng. Theo các chuyên gia của Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch đầu tư, thì kinh phí hơn 80 tỷ đồng là không khả thi đối với công trình có tổng mặt bằng kiến trúc cảnh quan tới hơn 15 ha, cả quần thể tượng đài đồ sộ và hoành tráng lớn nhất nước như vậy. Tiếp thu ý kiến đóng góp của các Bộ, ngành, tỉnh Quảng Nam đã điều chỉnh bổ sung vốn đầu tư để xứng tầm với một công trình cấp quốc gia.

Năm nay có hai công trình tượng đài là bà mẹ Việt Nam anh hùng và Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Gia Lai, được các bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Kế hoạch đầu tư, Tài chính xem xét đề nghị Trung ương hỗ trợ thêm kinh phí. Hiện tại, Đài tiếng nói Việt Nam và Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã quyên góp từ các doanh nghiệp, nhà hảo tâm gần 11 tỷ đồng. Nhóm doanh nhân Việt kiều tại Nga và Belarus đang kêu gọi, quyên góp để cùng xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng.

Trước việc điều chỉnh vốn đầu tư nói trên, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, người dân cho rằng, xây dựng tượng đài ghi công mẹ Việt Nam anh hùng là cần thiết, nhưng không nhất thiết phải quá hoành tráng, tốn kém đến hàng trăm tỷ đồng.

Ông Trần Ánh, cán bộ hưu trí ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, cho rằng, tỉnh nên dồn sức quan tâm chăm sóc những mẹ anh hùng còn sống neo đơn lúc tuổi già. "Nên xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng ngay trong lòng người chứ không nhất thiết chi ra số tiền quá lớn như vậy, trong khi tỉnh Quảng Nam còn là địa phương nghèo khó", ông Ánh nói.

Hiện cả nước còn hơn 44.000 bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống. Hầu hết các mẹ tuổi đã cao, sức yếu, nhiều mẹ cuộc sống còn khó khăn, sống neo đơn lúc tuổi già.

Trí Tín


Nguồn:http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/09/410-ty-dong-xay-tuong-dai-me-viet-nam-anh-hung/


Sunday, 11 September 2011

Trung Quốc Xấu hổ vì Ải Vị Vị


Jerome Cohen A./Wall Street Journal
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ

Trước khi bị bắt, Ải Vị Vị đã lên án bản chất độc đoán của chính phủ Trung Quốc một cách không mệt mỏi. Nhưng tác động như một nhà đấu tranh của ông không mạnh bằng sự mất tích vào một "Nhà an toàn" bí mật của cảnh sát ở Bắc Kinh vào ngày 3 tháng Tư, một sự việc đã phơi bày sự bất công của hệ thống tư pháp hình sự nước này. Bằng cách giam giữ ông vì một "tội phạm kinh tế" mơ hồ, giới lãnh đạo Trung Quốc đã giúp ông trở nên một nhân vật nổi tiếng trên trường quốc tế, một trường hợp minh họa rõ ràng những bất lực của một cá nhân khi phải đối mặt với một quyền lực không có gì ngăn cản được của nhà nước.

Cuộc phóng thích ông Ải hôm thứ Tư tiêu biểu cho một sự xuống nước nhục nhã của Bắc Kinh. Ông và gia đình như đã đạt được một kết quả tốt nhất trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Và sự việc đáng chú ý là ở chỗ họ đã đạt được kết quả ấy không hề dựa vào các quy tắc tố tụng hình sự của Trung Quốc, vốn có đầy đủ các sơ hở và các ngoại lệ rằng chính cảnh sát, với hỗ trợ từ các công tố viên và thẩm phán, vận dụng khéo léo để mang lại những tác động không thể lay chuyển được đối với bất kỳ ngi phạm nào. Thay vì thế, họ đã thực hiện cách của người Trung Quốc, là dựa trên các mối quan hệ sâu sắc đã truyền lại cho họ từ cha của ông Ái, nhà thơ cách mạng nổi tiếng Ai Qing, bản thân đã bị lạm dụng tàn tệ bởi Đảng Cộng sản trong thời thanh niên của người con trai mình.

Mặc dù gia đình đã có tiếp cận đến các luật sư dân sự nổi tiếng, những người từng chuẩn bị để tiếp nhận vụ án bất chấp đe dọa các loại từ công an, họ cũng không bao giờ chính thức tìm đến sự tư vấn của luật pháp, vì biết rằng những nỗ lực của các luật sư bào chữa hình sự sẽ hết sức vô ích và có thể phản tác dụng. Đây không phải là một trường hợp vi phạm thuế má thông thường mà chính là một cuộc điều tra có động cơ chính trị được hình thành để bị miệng một nhà phê bình ngày càng trở nên nổi tiếng.

Như vậy, vụ án sẽ phải đối đầu với chính trị và phải kín đáo. Chúng ta có thể không bao giờ biết được quá trình điều đình, vốn có vẻ như đã đổ vỡ cách đây không lâu nhưng cuối cùng đã kết thúc được bằng một sự thỏa hiệp. Các phương tiện truyền thông nhà nước trình bày vụ án bằng một phương cách nhằm giữ thể diện cho lãnh đạo Đảng, nhưng không một phương cách nào có thể che giấu được sự bối rối quá đỗi của họ.

Trong một nỗ lực để chấm dứt những phản đối công khai từ quốc tế và áp lực từ các chính phủ nước ngoài, chính quyền cấp cho ông Ái một loại tương tự như hình thức tạm tha có tiền thế chân, nghĩa là "chờ một vụ xử chắn chắn". Theo luật pháp Trung Quốc biện pháp này chỉ dành cho những nghi phạm thuộc các vi phạm được cho là tương đối nhỏ và không có hại nhiều cho xã hội. Điều đó cho thấy ông rõ ràng là chưa bao giờ bị bắt giữ chính thức, chưa kể đến việc bị truy tố, xét xử, kết tội hoặc bị kết án.

Đây là một vụ án đầu tiên về nhân quyền từ nhiều năm qua mà chính phủ Trung Quốc cảm thấy có nghĩa vụ phải nhường nhịn với dư luận thế giới. Việc gia nhập WTO của Trung Quốc một thập kỷ trước đảm bảo cho họ được tiếp tục tiếp cận vào thị trường Mỹ và các nơi khác bất chấp thành tích về nhân quyền của họ, và kể từ đó chính phủ TQ đã đa phần chứng tỏ là miễn nhiễm với những phản đối từ nước ngoài trong những vi phạm vào các quyền của dân chúng.

Điều đó nói rằng, việc trả tự do cho ông Ải vào cuối hôm Thứ tư, sau 80 ngày bị giam giữ gần như liên tục ở một nơi không rõ, có ý nghĩa hơn cả một sự tự do. Mặc dù thực tế rằng chưa bao giờ chính thức bị bắt giữ vào lần đầu tiên, ông vẫn có thể thấy chính mình bị bắt một lần nữa nếu ông công khai hả hê trong cơn bối rối xấu hổ của chính phủ.

Ông Ái vẫn không thể rời khỏi Bắc Kinh mà không được phép đặc biệt, nhưng bây giờ ông có quyền tự do thực sự được ở nhà với gia đình và di chuyển quanh thành phố cho đến một năm trong khi có vẻ như cảnh sát sẽ tiếp tục điều tra về các tội trốn thuế và phá hủy hồ sơ. Trên thực tế, các điều tra của họ về các quy kết này, vốn dần dần bị rò rỉ ra giới truyền thông trong quá trình giam giữ của Ải, cơ bản là đã hoàn tất. Việc công bố trả tự do cho ông cho biết rằng ông đã thú nhận những tội phạm này và đã nhiều lần "tình nguyện" sẽ trả lại thuế. Trong những trường hợp này, đóng tiền bảo lãnh là chỉ đơn giản là một cách để làm giảm những áp lực lên chính phủ Trung Quốc trong khi vẫn hạn chế được tự do phát biểu của ông, mặc dù dường như ông đã không bao giờ bị cáo buộc bất kỳ vi phạm nào.

Ông Ái nói rõ rằng khi về đến nhà ông không còn tự do để nói chuyện và chỉ trích trong những phương cách từng khiến mình nổi tiếng khắp thế giới. Ông sẽ không được sử dụng Twitter, Facebook, email, tham dự các các cuộc hội họp công cộng, các cuộc phỏng vấn, triển lãm sách và nghệ thuật để chế diễu chính quyền Cộng sản như ông từng thích thú hành động như thế trước đây.

Như những người khác trước mình, bây giờ ông Ái nhận thức sâu sắc được rằng bất kỳ sai lầm nào cũng có thể dẫn đến việc bị tống giam trở lại, và chắc chắn là lâu hơn so với sự cố ban đầu của ông. Người đoạt giải Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba, cuối cùng, đã phải chấp hành bản án 11 năm, và thậm chí một số người nước ngoài đã bị kết án đến 16 năm về tội trốn thuế. Hơn nữa, bất kỳ "hành vi sai trái" về phía mình bất lợi có thể ảnh hưởng đến số phận của bốn người đồng nghiệp của ông vẫn còn bị giam giữ bên ngoài sự chú tâm của quốc tế.

Trung Quốc đang chuẩn bị sửa đổi Luật Tố tụng hình sự của mình vào cuối năm nay. Có lẽ vì sự chú ý của quốc tế từ hoàn cảnh của Ai Vị Vị, với việc nêu ra những kỹ thuật đàn áp của cảnh sát, sẽ cung cấp thêm động lực cho việc đưa đến những phương cách bảo vệ có ý nghĩa cho những nghi phạm trong tương lai, đặc biệt với những người không có được tầm vóc và các quan hệ như ông Ái.

Khí hậu chính trị hiện nay có thể không được thuận lợi cho việc cải cách pháp luật, nhưng giới lãnh đạo Đảng cũng biết rằng các áp lực xã hội đang chồng chất chống lại sự lạm dụng của chế độ độc đảng. Trên bình diện rộng, các hành vi sai trái của công an đang thúc đẩy một ý thức ngày càng tăng của sự bất công giữa nhiều nhóm dân chúng. Thực hiện những cải cách như thế là lựa chọn tốt nhất của Đảng trong việc xoa dịu cơn giận của công chúng và tránh sự xấu hổ trong tương lai như việc giam giữ ông Ái.

Nguồn: Wall Street Journal

http://www.anonasurf.com/browse.php?u=Oi8vd3d3LngtY2FmZXZuLm9yZy9ub2RlLzIyODM%3D&b=13

:

Triển lãm: TRỜI - ĐẤT và NGƯỜI II


Sau triển lãm “Trời, đất và người I” năm 2009 tại Việt Ary Centre – Hà Nội, họa sĩ Phạm Huy Hùng “một lần nữa gửi tới công chúng thông điệp của tổ tiên mượn từ trời cao” qua triển lãm cá nhân lần thứ 2 cũng với cái tên “Trời, đất và người II” tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nếu như ở triển lãm “Trời, đất và người I” mối quan hệ giữa trời, đất và người được họa sĩ biểu đạt thông qua nghệ thuật của mình một cách thuần túy như những cảm nhận ban đầu thì ở triển lãm lần II này, mối quan hệ ấy được mã hóa cụ thể với những hình tam giác đều, hình tròn, khối chóp, khối cầu,… những ký tự riêng tác giả chứa đựng những thông điệp từ tự nhiên và siêu tự nhiên. Họa sĩ Phạm Huy Hùng cho biết “những ý tưởng cho các sáng tác trong triển lãm này được dẫn dắt bằng các hình ảnh trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, nơi chứa đựng những thông điệp xuyên thời gian”.

Triển lãm trưng bày 50 tác phẩm với 2 chất liệu chính là sơn dầu và sơn mài. Triển lãm khai mạc lúc 10 giờ ngày 09/09/2011 và kéo dài đến hết ngày 24/09/2011 tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, 97A Phó Đức Chính, quận 1.

Wednesday, 24 August 2011

Ông Phan Cẩm Thượng thương tiếc họa sĩ Vũ Giáng Hương


Cập nhật: 14:38 GMT - thứ tư, 24 tháng 8, 2011
Nữ họa sĩ Vũ Giáng Hương

Tang lễ của họa sĩ Vũ Giáng Hương dự kiến được cử hành vào ngày 25/8/2011 tại Hà Nội

Phó giáo sư, họa sĩ Vũ Giáng Hương, người được rất nhiều họa sĩ trong giới mỹ thuật Việt Nam coi như "chị cả", vừa qua đời tại Hà Nội hưởng thọ 82 tuổi.

Sinh ra trong một gia đình nổi tiếng trong giới văn học nghệ thuật bà là một trong tám người con của nhà văn Vũ Ngọc Phan và thi sĩ Hằng Phương.

Thuộc thế hệ các họa sĩ đầu tiên của trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, bà thuộc lớp học trò đầu tiên của các họa sĩ bậc thầy Việt Nam như Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tiến Chung.

Bà từng là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam và chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Một số tác phẩm nổi bật của họa sĩ Vũ Giáng Hương phải kể tới bức "Cầu Hàm Rồng", "Chùa Thầy", "Chuyến phà đêm" - thể loại tranh khắc gỗ, nhưng sở trường và thành công của bà lại thiên về tranh lụa - với bức "Hợp tác xã".

Nhưng có lẽ với nhiều người, nói tới bà là nói tới tấm lòng nhân hậu và những trợ giúp của bà với thế hệ họa sĩ trẻ khi bà nắm giữ các chức vụ trên trong thời kỳ chiến tranh và cả sau nay.

Một trong những người như vậy, họa sĩ Phan Cẩm Thượng, từng là học trò của bà Vũ Giáng Hương, cho biết vì thời gian danh cho hội họa không nhiều nên các tác phẩm của bà thường theo thể loại vẽ nhanh, không mất thời gian nhiều:

"Nếu triển lãm chung thì tranh của bà không có gì nổi bật, rất đạm bạc ... với các đề tài rất thanh bình nhưng có sự tinh tế và xem dần sẽ thấm lâu."

Trong cuộc trò chuyện với BBC Việt Ngữ, họa sĩ Phan Cẩm Thượng nhìn lại sự nghiệp và ấn tượng mà bà Vũ Giáng Hương đã để lại với các họa sĩ Việt Nam và những người đã từng biết về bà.


Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture_social/2011/08/110824_phancamthuong_vugianghuong.shtml

Saturday, 6 August 2011

Nên sử dụng bao cao su đúng cách.











Nếu sử dụng không đúng cách thì đôi khi chỉ mang lại tác dụng ngược.









Giới trẻ Thứ Bảy, 06/08/2011 06:16 10 điều không thể bỏ qua khi dùng bao cao su
Sử dụng bao cao su là cần thiết trong tất cả trường hợp quan hệ tình dục. Tuy nhiên, để sử dụng bao cao su đúng cách thì bạn nên tham khảo 10 lời khuyên dưới đây.
Sử dụng bao cao su là cách tốt nhất có tác dụng ngăn ngừa mang thai hoặc mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục tới 98% nếu được sử dụng đúng cách. Nếu bạn có xu hướng quan hệ tình dục với nhiều “đối tác” thì việc dùng bao cao su là hết sức cần thiết.
Tuy nhiên, muốn biết sử dụng bao cao su thế nào mới là đúng cách thì bạn nên tham khảo 10 lời khuyên dưới đây:
1. Kiểm tra chứng nhận chất lượng: Luôn luôn ghi nhớ xem xét chứng nhận chất lượng của bao cao su trên bao bì trước khi mua. Nếu nó mang nhãn hiệu CE, bạn có thể yên tâm về chất lượng của nó.
2. Kiểm tra hạn sử dụng: Kiểm tra ngày hết hạn sử dụng được in trên bao bì để chắc chắn sản phẩm đó có bảo vệ bạn được tối đa nhất có thể.
3. Mang theo trong những ngày nghỉ: Hầu hết mọi người, người đi du lịch, đi nghỉ hoặc ra nước ngoài đều có thể phải đối mặt với vấn đề ngôn ngữ liên quan, văn hóa, ở những nơi không quen thuộc. Để tránh bất kỳ khó khăn trong việc mua bao cao su ở những nơi này, bạn nên mang chúng theo ngay từ ở nhà. Điều này sẽ đảm bảo rằng bạn có thể yên tâm tận hưởng kỳ nghỉ của bạn.
4. Sử dụng trước khi có tiếp xúc trực tiếp: Luôn luôn đảm bảo rằng bạn đeo bao cao su trước khi bất kỳ tiếp xúc vật lý giữa dương vật và âm đạo hoặc hậu môn để ngăn chặn việc truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc các virus khác.
5. Dùng bao cao su khi “cậu nhỏ” đã “chào cờ”: Đeo bao cao su khi dương vật đã cương cứng đầy đủ sẽ bảo vệ tốt hơn so với việc đeo nó vào lúc dương vật đang ở trạng thái bình thường.
6. Dùng bao cao su mọi lúc: Sử dụng bao cao su trong bất kỳ lần quan hệ tình dục nào là trách nhiệm của mỗi người. Cho dù chỉ một lần “gặp gỡ” mà không có bao cao su cũng có thể dẫn đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc mang thai.
7. Thay bao cao su thường xuyên: Nếu bạn có cuộc “giao ban” dài với “đối tác” thì tốt nhất sau 30 phút nên thay bao cao su một lần, nếu không, nguy cơ rách sẽ tăng lên gấp đôi. Hậu quả kéo theo là các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc mang thai ngoài ý muốn. Bạn cũng có thể thay bao cao su sau khi xuất tinh và tiếp tục “hiệp hai”.
8. Không dùng nhiều bao cao su cùng lúc: Sử dụng đồng thời hai bao cao su cùng lúc sẽ làm tăng cọ xát với nhau và gây ra ma sát dẫn đến rách và không đạt mục đích sử dụng. Điều này đúng ngay cả trong trường hợp dùng cả hai bao cao su nam hoặc một bao cao su nam và một bao cao su nữ.
9. Lưu trữ: Hầu hết bao cao su làm từ mủ cao su, nên rất nhạy cảm với nhiệt độ và ánh sáng, do đó nên lưu trữ chúng trong một nơi mát và tối. Nếu bạn sống ở một nơi nóng và ẩm ướt, tốt hơn nên để chúng trong tủ lạnh, đặc biệt là vào mùa hè. Luôn luôn cho bao cao su được sử dụng trong bao bì lá của nó và bỏ vào thùng rác để giữ lịch sự và vệ sinh.
10. Dùng dầu bôi trơn: Không sử dụng các sản phẩm dầu như kem dưỡng ẩm, kem bôi và các loại dầu cơ thể để bôi trơn âm đạo hoặc hậu môn trong khi sử dụng bao cao su. Những sản phẩm dầu có thể làm hỏng bao cao su, dẫn đến dễ rách và rò rỉ tinh trùng. Điều này sẽ làm hỏng toàn bộ mục đích của việc sử dụng bao cao su.
Sử dụng bao cao su là cần thiết ngay cả trong trường hợp quan hệ tình dục qua đường miệng để ngăn chặn các nhiễm trùng lây truyền nếu chẳng may bạn bị loét miệng hoặc chảy máu nướu răng. Nếu nghi ngờ bao cao su đó đã hỏng, nên bỏ đi và thay bằng bao cao su khác, tránh rủi ro cho mình và cho người khác.


T. Liên ( PLXH )
Nguồn:http://dunglepower.blogspot.com/2011/08/nen-su-dung-bao-cao-su-ung-cach.html

Sunday, 31 July 2011

Nguyễn Mạnh Hùng: Họa sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác

Theo vtc.vn - 3 tháng trước

(VTC News) - Nguyễn Mạnh Hùng luôn mơ đến một thiên đường đẹp, nơi ấy các thiên thần có thể cùng chung sống, cùng yêu thương và cùng sáng tạo. Hiện “Chung cư thiên đường” của anh đang “toạ lạc” tại địa chỉ 56 – 58 Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Nó khiến người xem đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Trước hết là bởi nó nó được xây bằng thứ chất liệu “trời ơi đất hỡi” như: chuồng cọp, lồng sắt, vật liệu cũ, thậm chí cả… rác thải.

Chúng tôi gặp hoạ sỹ trẻ Nguyễn Mạnh Hùng sau khi triển lãm mô hình “Chung sống trên thiên đường” của anh khai mạc được một ngày tại phòng trưng bày của Viện Goethe, 56 – 58 Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Khác với ấn tượng ban đầu về một chàng hoạ sỹ trẻ có vóc dáng nhỏ nhắn, thư sinh, Nguyễn Mạnh Hùng thu hút chúng tôi bởi cách nói chuyện cởi mở và rất có duyên.

Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác'
Mô hình "Chung sống trên thiên đường của Nguyễn Mạnh Hùng được tạo nên từ những vật liệu phế thải.

- Xin hoạ sĩ cho biết ý tưởng của mô hình “Chung sống trên thiên đường” tại cuộc triển lãm này? Thông điệp mà anh anh muốn gửi gắm tới người xem?

- Cuộc đời tôi trải qua hơn 20 năm kinh nghiệm sống tại khu tập thể và đã có vô số những kỷ niệm, ký ức ám ảnh về quá khứ, về nếp sinh hoạt của những con người ở đó. Và tôi luôn nghĩ tới điều này khi sáng tác một bức tranh hay một tác phẩm nào đó. Tôi đã từng vẽ những bức tranh siêu thực với những hình ảnh của khu chung cư và đó mới chỉ là những phác thảo cho một dự định to lớn hơn: “Mô Hình”.

Ngay khi có đủ tuổi nghề, kinh nghiệm công tác, quan hệ xã hội… tôi lập tức tiến hành sản xuất mô hình đầu tiên – chính là tác phẩm này – năm 2009.

Với hình ảnh một toà tháp chọc trời nhưng vẫn đầy đủ chuồng cọp, lồng sắt cơi nới từ mỗi căn hộ, tôi ẩn dụ một hình tượng hài hước mà sự tham lam đã có sẵn trong nhu cầu mỗi người. Không nhằm tới một thông điệp gì cụ thể, tôi chỉ đưa ra hình ảnh như vậy để người xem tự thưởng thức “tay nghề” của tôi và quan niệm về thẩm mỹ của tôi. Qua đó, họ muốn liên tưởng đến thông điệp gì là ở trí tưởng tượng của họ, nếu không liên tưởng được gì thì cũng không quan trọng.

- Vậy ý nghĩa của tiêu đề “Chung sống trên thiên đường”?

- Tiêu đề “Chung Sống Trên Thiên Đường” cũng là một cách đề cập hài hước mà tôi muốn ẩn dụ về nếp sinh hoạt của loài người. Các thiên thần là do loài người nghĩ ra và họ mặc định chỗ ở của thiên thần là trên thiên đường. Tôi không biết thiên đường rộng bao nhiêu mét vuông nhưng cứ đến đó thì gặp được thiên thần, hẳn là họ sống quanh đó hết. Và lại tưởng tượng tiếp rằng khi họ sống với nhau tập trung ở một nơi như vậy thì đời sống sẽ ra sao? Thực sự mình chỉ có thể đặt ra câu hỏi mà không có câu trả lời.

Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác
Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác
- Hoạ sĩ có thể cho biết qua về kết cấu, kích thước của mô hình độc đáo trên?

- Mô hình toà tháp chung cư này được làm từ gỗ dán, có khung sắt nhỏ, và các chi tiết như lồng sắt, quần áo, cây cảnh, cửa kính, mái tôn… Tất cả đều lấy từ các vật liệu cũ và rác. Kích thước của toà nhà là 65cm x 65cm - cao 3m.

- Phải chăng mô hình chung cư này giống với khu tập thể Kim Liên, nơi anh đã sinh ra và lớn lên?

- Như đã trả lời ở trên, tôi luôn ám ảnh bởi những kỷ niệm và kinh nghiệm sống ở khu nhà cũ Kim Liên nên chắc chắn rằng nhiều chi tiết trong mô hình này được copy từ đó. Nhưng khu Kim Liên chỉ có 4 tầng thôi.

- Anh mất bao nhiều thời gian để hoàn thiện nó?

- 10 người làm trong 1 tháng rưỡi.

- Như hoạ sĩ vừa nói, để hoàn thiện mô hình này, anh sử dụng đa phần là chất liệu tái chế. Phải chăng, anh muốn gửi tới mọi người thêm một thông điệp về “bảo vệ môi trường”?

- Tôi không có tham vọng “lớn lao” như nhiều người vẫn hô hào về bảo vệ môi trường mà chỉ muốn tiết kiệm tiền của mình để làm nghệ thuật được hiệu quả mà rẻ thôi. (Cười)

Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác
Cận cảnh một góc của "thiên đường".
- Trong quá trình hoàn thiện mô hình anh gặp những khó khăn gì? Khâu nào trong mô hình là khó làm nhất?


- Điều khó nhất để thực hiện một mô hình trông như cũ là làm màu sắc và tìm chất liệu phù hợp. Nếu làm mô hình về một toà tháp mới tinh và hiện đại, có lẽ sẽ nhanh gọn hơn rất nhiều vì thời đại công nghiệp này cho phép chúng ta thi công trên mọi vật liệu thích hợp và sản xuất hàng loạt rất nhanh.

Nhưng mô hình nhà cũ không áp dụng phương pháp, kỹ thuật đó được. Mọi thứ đều phải làm bằng tay và thêm công đoạn làm cũ. Công sức và tình cảm của hoạ sỹ sẽ bỏ vào đó nhiều hơn. Tác phẩm nghệ thuật cần có tình cảm bên trong đó và điều này không dễ.

- Trước khi đem về triển lãm tại Việt Nam, mô hình chung cư của anh đã được giới thiệu tại 3 triển cuộc lãm quốc tế khác nhau: Bảo tàng Stenersen tại Oslo (Na Uy), Gallery 3.14. ở Bergen, Phòng trưng bày của Viện các quan hệ đối ngoại (ifa) ở Berlin và Stuttgart. Là một người Việt Nam, tại sao anh không quyết định hiện thực hoá ý tưởng của mình lần đầu tiên tại một triển lãm trong nước mà lại chọn một quốc gia khác? Tại đây, khán giả ngoại quốc đón nhận mô hình của anh như thế nào?

- Sau khi hoàn thành mô hình, tôi nhận được lời mời tham gia trưng bày tác phẩm tại những đơn vị đó và nó đến rất nhanh. Tôi nghĩ rằng, nếu mình tham gia ở nước ngoài trước thì nó chỉ có thể là một mô hình kiến trúc bình thường thôi và sẽ không đủ điều kiện để làm thành bức tranh ba chiều như triển lãm ở Việt Nam. Vì vậy kinh phí vận chuyển và sức lao động sẽ đỡ hao tổn hơn cho đơn vị tổ chức. Mặt khác mình cũng không vội vàng phải làm bức tranh đó ngay nên cứ để mô hình này tham gia các cơ hội “dễ” trước, còn cơ hội “khó” sẽ được thực hiện khi mình đã chuẩn bị kỹ lưỡng hơn.

Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác
Hoạ sỹ Nguyễn Mạnh Hùng - giám đốc nghệ thuật của studio Nhà sàn Đức.
- Sau cuộc triển lãm này, anh có tiếp tục đem mô hình “Chung cư” đi trưng bày ở một nơi nào khác?


- Tôi chưa có dự định gì với mô hình này trong tương lai.

- Đây là một mô hình không dễ dịch chuyển. Anh làm cách nào để đưa được nó đi từ triển lãm này tới triển lãm khác?

- Tôi đã thiết kế nó có thể tháo lắp thành những bộ phận nhỏ hơn để dễ đóng thùng gỗ khi vận chuyển. Tuy nhiên khi lắp nó trở lại như cũ thì bắt buộc phải tự tay mình làm, không thể giao việc đó cho ai khác.

- Từ lâu mọi người đã biết tới anh với những bức tranh lạ như: Máy bay chiến đấu thay vì chở bom lại chở dưa chuột và cà chua, lúa gạo hoặc kéo rơ - moóc chở đầy vật liệu xây dựng lên không trung… Xin anh nói thêm về ý tưởng cho những tác phẩm này?

- Các tác phẩm của tôi không nói cụ thể về điều gì. Mọi hình ảnh tôi đưa vào tranh đều đang có trong cuộc sống, nó chỉ khác ở chỗ tôi chọn những hình ảnh liên quan đến tuổi thơ của mình, gia đình mình và những gì mình hay gặp để đặt cạnh nhau. Người xem thoả sức tưởng tượng với chúng bằng chính hiểu biết của họ. Nếu không tưởng tượng được gì thì cứ coi như nó là phong cảnh thôi.

- Có rất nhiều trường phái hội hoạ, mỹ thuật khác nhau nhưng tại sao anh lại quyết định đi theo thể loại siêu thực?

- Chủ nghĩa siêu thực phù hợp với cách đặt vấn đề và tạo hình của tôi. Nó xuất phát từ hiện “thực” và chỉ khác đi khi ta đặt nó với những vị trí và bố cục “siêu” hình. Siêu thực đã ra đời từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và là một ngôn ngữ đắc lực để loài người tưởng tượng bằng hình ảnh mà không cần đọc chữ.

Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác
Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác
Nguyễn Mạnh Hùng: Hoạ sỹ trẻ xây thiên đường từ… rác
Một số tác phẩm siêu thực khác của Nguyễn Mạnh Hùng.
- Hiện tại anh đang là Giám tuyển và Giám đốc nghệ thuật của Studio Nhà sàn Đức. Vừa làm công việc quản lí vừa làm công tác nghệ thuật, chắc hẳn sẽ rất bận rộn. Với khối lượng công việc lớn như vậy, nó có ảnh hưởng gì tới những dự định sáng tạo của anh? Có lẽ hoạ sĩ sẽ phải sắp xếp một lịch làm việc thực sự hợp lí và khoa học?


- Thực ra, nghệ sỹ không bận rộn kiểu như các cán bộ đi làm cơ quan, công việc đến với nghệ sỹ không đều đặn như một ngày 8 tiếng. Nhiều khi tất cả các việc đến với mình cùng một lúc hoặc cũng có khi chẳng có việc gì làm. Và ta chỉ có thể biết khi nào nghệ sỹ nói bận tức là bận, khi nào không bận tức là rảnh. (Cười)

Trong những trường hợp bận rộn, đòi hỏi mình phải giữ được bộ óc sáng suốt để sắp xếp các trình tự công việc được khoa học, bù lại thời gian đó ta sẽ có những lúc thư giãn khi công việc hoàn thành. So với những người làm công việc văn phòng thì tôi thích công việc của mình hơn vì nó đa dạng và vui hơn, nhiều cơ hội cân bằng tâm lý hơn.

- Là một hoạ sĩ trẻ có tên tuổi, anh đã đi nhiều nơi trên thế giới và tiếp xúc với nhiều trường phái hội hoạ khác nhau, đặc biệt là nền mỹ thuật đương đại của thế giới. Anh nghĩ sao về nền mỹ thuật Việt Nam đương đại?

- Tôi cho rằng một nghệ sỹ bị ba điều sau đây chi phối: “Cảm Xúc, Tay Nghề, Tri Thức”.

Nếu một trong ba thứ kém cân bằng trong họ thì đều không thành nghệ sỹ. Ví dụ: Nếu anh chỉ có Cảm Xúc và Tay Nghề thì tác phẩm của anh sẽ thiếu chiều sâu và có thể bị lạc hậu, điểm này đa số nghệ sỹ Việt Nam mắc phải. Vì giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam đang ở mức độ dạy nghề.

Nếu anh chỉ có Tay Nghề và Tri Thức mà thiếu Cảm Xúc thì tác phẩm sẽ bị khô cứng và đôi khi bị lên gân vì các quan điểm triết lý, mất duyên.

Nếu anh chỉ có Cảm Xúc và Tri Thức mà không có tay nghề thì tôi không gọi anh là nghệ sỹ được vì anh không biết làm nghề.

Mỹ thuật đương đại Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Nó xuất hiện nhiều yếu tố mới nhưng cũng mang nhiều yếu tố cũ. Xong, con số những nghệ sỹ cân bằng được 3 yếu tố trên đây quá ít.

- Những dự định sắp tới của anh?

- Dự định sắp tới của tôi vẫn là vẽ tranh và có lẽ sẽ làm một số mô hình nhỏ thôi để không phải tốn thời gian của những người khác khi mình nhờ họ giúp đỡ. Và cũng dễ vận chuyển hơn khi đi triển lãm nữa.

- Rất cám ơn hoạ sĩ về buổi trò chuyện! Chúc anh thành công hơn nữa trên con đường nghệ thuật!


Hoạ sĩ Nguyễn Mạnh Hùng sinh năm 1976, tốt nghiệp khoa Hội hoạ - Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 2002. Anh là một trong những hoạ sĩ trẻ năng nổ ở thể loại siêu thực và đã đạt được thành công nhất định. Anh đã giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật siêu thực của mình trong nhiều triển lãm riêng và nhóm.

Mô hình chung cư của anh đã được giới thiệu tại 3 triển lãm quốc tế: tháng 9/2009 tại Bảo tàng Stenersen tại Oslo, Gallery 3.14; Bergen và từ tháng 12/2009 đến tháng 10/2010 tại Phòng trưng bày của Viện các quan hệ đối ngoại (ifa) ở Berlin và Stuttgart.

Triển lãm mô hình “Chung sống trên thiên đường” của Nguyễn Mạnh Hùng hiện đang được trưng bày tại viện Goethe, 56 – 58 Nguyễn Thái Học – Hà Nội, kết thúc vào ngày 30/4. Anh hiện đang là Giám tuyển và Giám đốc nghệ thuật của Studio Nhà sàn Đức, một Studio nghệ thuật đương đại nổi tiếng tại Hà Nội.